Xu Hướng 2/2023 # Công Bố Đáp Án Chính Thức Môn Ngữ Văn Lớp 10 Của Nghệ An # Top 5 View | Acevn.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Công Bố Đáp Án Chính Thức Môn Ngữ Văn Lớp 10 Của Nghệ An # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Công Bố Đáp Án Chính Thức Môn Ngữ Văn Lớp 10 Của Nghệ An được cập nhật mới nhất trên website Acevn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trước đó, sau khi kết thúc môn Ngữ văn, nhiều thí sinh và giáo viên đánh giá đề thi năm nay khá hay và có tính phân hóa cao. Trong đó, phần đọc hiểu (2 điểm) yêu cầu thí sinh xác định phương thức biểu đạt chính, chỉ ra biện pháp tu từ và tìm từ đồng nghĩa trong bài thơ “Bà tôi” của tác giả Kao Sơn. Đề cũng yêu cầu thí sinh phát biểu suy nghĩ về thái độ ứng xử chan chứa tình người của người bà trong đoạn thơ.

Ngày hôm nay, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã công bố đáp án chính thức của đề thi môn Ngữ văn.

Toàn bộ đáp án gồm 3 trang. Theo hướng dẫn của Sở, việc chấm được xây dựng theo hướng đánh giá năng lực. Trong đó, giám khảo cần nắm bắt được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh để đánh giá một cách tổng quát và vận dụng linh hoạt; phát hiện và trân trọng những bài làm thể hiện tính sáng tạo, có ý kiến và giọng điệu riêng.

Nếu học sinh làm theo cách khác (không có trong đáp án) nhưng đáp ứng yêu cầu cơ bản và có sức thuyết phục vẫn được chấp nhận.

Đáp án chính thức môn Ngữ văn:

Đáp án môn Ngữ văn. Ảnh: MH

Tổng điểm toàn bài là 10 điểm, chi tiết đến 0,25 điểm. Ảnh: MH

Dự kiến đến khoảng 18/6, Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố điểm thi. Ảnh: MH

Đề Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 10 ( Có Đáp Án)

Năm học: 2017-2018

I. PHẦN ĐỌC – HIỂU (5 điểm)

Câu 1: (4 điểm): Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

“Tiếng nói là người bảo vệ qúi báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện dữ dìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người an nam nào vứt bõ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khướt từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi….Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

(Trích “Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” – Nguyễn An Ninh)

a/ Nêu nội dung của đoạn trích

b/ Chỉ ra các lỗi sai về chính tả trong đoạn trích?

c/ Viết đoạn văn ngắn (theo thao tác diễn dich hoặc qui nạp) bàn về vấn đề bảo vệ tiếng nói của dân tộc trong thời kỳ hội nhập hiện nay.

Câu 2: (1 điểm)

Chỉ ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng của phép tu từ đó trong câu thơ sau:

“Người nắm trăng soi ngoài cửa sổTrăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

(Hồ Chí Minh, Ngắm trăng)

II. PHẦN LÀM VĂN (5 điểm)

Phân tích lời nhờ cậy, thuyết phục của Thúy Kiều khi trao duyên trong 12 câu đầu trong đoạn trích ” Trao duyên ” (Trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du).

Đáp án đề thi học kì 2 môn Ngữ văn lớp 10

Câu 1

Câu a. Học sinh nêu được nội dung đoạn trích: Vai trò của tiếng nói dân tộc trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.

(G/v căn cứ cách trình bày và diễn đạt của học sinh để cho điểm phù hợp)

Câu b. Học sinh chỉ ra được các lỗi sai và đề xuất được cách chữa

Không viết hoa tên riêng: an nam → Sửa: An Nam

Viết sai âm đầu: dữ dìn → Sửa: giữ gìn

Viết sai âm cuối: khước từ → Sửa: khước từ

Viết sai dấu: vứt bõ → Sửa: vứt bỏ

(Nếu học sinh không chỉ rõ nguyên nhân sai hoặc không chỉ ra cách sửa chữa thì G/v chỉ cho nửa số điểm/ 1 yêu cầu)

Câu c. Đoạn văn cần đảm các yêu cầu sau

Viết đúng đoạn văn theo thao tác diễn dịch, qui nap. Trình bày sạch đẹp, đúng hình thức một đoạn văn. Diễn đạt gãy gọn, rõ ràng. Viết câu, dùng từ chính xác. Văn có cảm xúc … (0,5 điểm)

Nội dung: H/s có thể có nhiều cách trình bày khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý sau:

Giải thích rõ về tiếng nói dân tộc và vai trò của tiếng nói dân tộc trong đời sống (0,5 điểm)

Phân tích tình hình sử dụng tiếng nói dân tộc hiện nay (Nhấn mạnh vào các hiện tượng sử dụng lạm dụng tiếng nước ngoài, pha tạp tiếng nói dân tộc, thay đổi cách viết, cách phát âm…) (0,5 điểm)

Giải pháp cho vấn đề bảo vệ tiếng nói của dân tộc (0,5 điểm)

Câu 2

Học sinh chỉ ra phép tu từ nhân hóa (0,5 điểm)

Tác dụng: Làm cho thiên nhiên trở nên có hồn, sống động và gắn bó với con người hơn (0,5 điểm)

II. Làm văn: Giáo viên tùy bài làm của học sinh mà linh động cho điểm

a/ Yêu cầu về kĩ năng (1,0 điểm)

Biết cách làm bài văn nghị luận

Kết cấu 3 phần rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn có cảm xúc.

Không mắc lỗi: chính tả, dùng từ, viết câu…

Chữ viết rõ ràng, cẩn thận

b/ Yêu cầu về kiến thức:

b1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và đoạn trích (0,5 điểm)

b2. H/s phân tích rõ lời trao duyên của Thúy Kiều

Hai câu thơ đầu: Lời nhờ cậy (1,0 điểm)

Đây là lời nhờ cậy, tác giả đã đặt Thúy Kiều vào hoàn cảnh éo le để nàng tự bộc lộ tâm trạng, nhân cách của mình. Kiều buộc phải trao duyên, nàng làm như vậy là thực hiện một chuyện tế nhị, khó nói. (Phân tích rõ từ “Cậy”, từ “Chịu” để thấy được Thúy Kiều hiểu hoàn cảnh của Thúy Vân, nàng ý thức được việc mình nói ra mang tính chất rất hệ trong, việc nàng nhờ cậy có thể làm em lỡ cả đời)

Khung cảnh “Em” – “ngồi”, “chị” – “lạy”, “thưa”. Ở đây có sự đảo lộn ngôi vị của hai chị em trong gia đình, diễn tả việc nhờ cậy là cực kì quan trọng, thiêng liêng, nghiêm túc

6 câu tiếp: Lời giãi bày nỗi lòng mình (0,5 điểm)

Thúy Kiều nói về hoàn cảnh éo le của mình:

Kiều nói vắn tắt về mối tình đẹp nhưng dang dở với Kim Trọng

Nàng nhắc đến các biến cố đã xẩy ra khiến Kiều không thể tiếp tục cuộc tình của mình.

Kiều xin em hãy “chắp mối tơ thừa” để trả nghĩa cho chàng Kim.

Bốn câu: Lời thuyết phục. (1,0 điểm)

Thúy Kiều thuyết phục em nhờ vào lí lẽ:

Nhờ vào tuổi xuân của em

Nhờ vào tình máu mủ chị em

Dù đến chết Kiều vẫn ghi ơn em, biết ơn sự hi sinh của em.

b3. Nghệ thuật: (0,5 điểm)

Miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật

Ngôn từ chọn lọc, sử dụng nhiều biện pháp tu từ.

b4. Khẳng định lại nội dung, nghệ thuật, khẳng định tài năng của tác giả. (0,5 điểm)

Đáp Án Đề Thi Thpt Quốc Gia 2022 Môn Văn Chính Thức

1. Đề thi THPT Quốc gia 2020 môn Văn chính thức

PHẦN I: ĐỌC HIỂU

Câu 1: Cách giải: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2:

*Phương pháp: Đọc, tìm ý.

*Cách giải:

Các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc Cực sinh trưởng rất đáng kinh ngạc:

– Chúng vẫn đua nhau nảy mầm, nở thật nhiều hoa, kết hạt, chen chúc vươn mình trong khoảng không với mảnh đời ngắn ngủi.

– Chúng chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với mùa đông dài khắc nghiệt sắp tới và phó thác sinh mạng mình cho tự nhiên.

– Chúng thực sự sống hết mình cho hiện tại, không ảo tưởng, không phân tâm.

Câu 3:

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.

*Cách giải:

* Điểm tương đồng về sự sống của các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực và ở vùng sa mạc Sahara trong đoạn trích.

– Các loài thực vật ở 2 vùng đều nảy mầm và nở hoa trong điều kiện khắc nghiệt nhất.

– Đều cho thấy sức sống phi thường của các 2 thảm thực vật.

– Các loài thực vật đều sống hết mình, sống trọn vẹn từng phút giây.

Câu 4:

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.

*Cách giải:

Học sinh đưa ra ý kiến riêng của mình, có thể đồng tình hoặc không đồng tình. Học sinh lí giải phù hợp với ý kiến cá nhân, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Gợi ý:

– Đồng tình với ý kiến của tác giả.

– Vì:

+ Sống hết mình chứng tỏ con người đã không bỏ cuộc trước những khó khăn thất bại.

+ Sống hết mình, dù nhỏ bé chứng tỏ nếu con người có thất bại thì cũng đã rút ra cho mình được bài học. Mà thất bại nhỏ sẽ tạo nên thành công lớn.

+ Cả câu: Sống hết mình giúp con người vươn tới tương lai bởi mỗi bài học rút ra được từ sự nỗ lực sẽ giống như viên gạch xây đắp nền móng vững chắc để con người phát triển và hoàn thiện bản thân.

PHẦN II: LÀM VĂN Câu 1:

*Phương pháp: Phân tích, lí giải, tổng hợp.

*Cách giải:

Yêu cầu chung

– Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng để viết một đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ.

– Đoạn văn phải có bố cục, kết cấu rõ ràng; lập luận thuyết phục; diễn đạt mạch lạc; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

– Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau; có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ riêng nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Yêu cầu cụ thể

1. Giới thiệu vấn đề: sự cần thiết phải trân trọng cuộc sống mỗi ngày

2. Giải thích vấn đề: trân trọng cuộc sống mỗi ngày là thái độ sống tích cực, biết yêu mến, nâng niu cuộc sống.

3. Phân tích, bàn luận vấn đề

– Vì sao lại cần phải trân trọng cuộc sống mỗi ngày?

+ Cuộc đời con người là hữu hạn, ngắn ngủi cho nên phải biết trân trọng cuộc sống mà mình đang có.

+ Cuộc sống cũng chứa đựng những biến cố bất ngờ, bất khả kháng xảy đến. Trước những biến cố đó, con người càng cần phải trân trọng điều nhỏ bé, bình dị, đời thường hàng ngày.

+ Biết nâng niu trân trọng cuộc sống thì con người mới biết sống tốt hơn, sống tử tế, sống Người hơn. Đây chính là ý nghĩa nhân văn cao cả.

– Từ đó: cần có thái độ sống đúng đắn: trân trọng cuộc sống mỗi ngày

+ Trân trọng từng khoảnh khắc trôi qua của cuộc sống, dẫu ngắn ngủi nhưng đó là khoảnh khắc tạo nên ý nghĩa cho cuộc đời chúng ta.

+ Sống hết mình, không lãng phí từng khoảnh khắc cuộc đời, tạo nên những khoảnh khắc đẹp để mỗi khoảnh khắc là mãi mãi…

+ Phê phán những người để cuộc sống mỗi ngày trôi qua vô nghĩa khi sống hời hợt, chạy theo ảo vọng (đưa ra những dẫn chứng cụ thể, thuyết phục)

+ Đặc biệt: đặt trong bối cảnh hiện nay, khi đại dịch Covid diễn biến khó lường, con người đang phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế, thiếu thốn về mọi mặt… thì càng phải biết trân trọng nâng niu cuộc sống bình yên đang có và nỗ lực xây dựng cuộc đời tốt đẹp hơn.

4. Liên hệ bản thân

– Là một người học sinh/ một công dân trẻ: Chúng ta cần: tạo cho mình thái độ sống tích cực, hành động tích cực và lan tỏa những hành động đó đến với mọi người xung quanh.

5. Tổng kết: Khẳng định lại tầm quan trọng, sự cần thiết của việc trân trọng cuộc sống mỗi ngày như lời cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui

Chọn những bông hoa và những nụ cười

Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy

Để mắt em cười tựa lá bay…

Câu 2:

*Phương pháp:

– Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

– Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn.

*Cách giải:

Giới thiệu chung

– Nguyễn Khoa Điềm một trong những gương mặt nổi bật trong văn học kháng chiến chống Mĩ.

– Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, xúc cảm lắng đọng, dồn nén thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân.

– Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971. Đây là bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng bị tạm chiếm ở miền Nam trước năm 1975. Nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, đứng về nhân dân, đất nước; ý thức được xứ mệnh của thế hệ mình, họ đứng dậy xuống đường đấu tranh hoà nhập với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc.

– Đoạn trích Đất Nước thuộc phần đầu chương V của trường ca là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại.

– Trong tác phẩm này nổi bật là tư tưởng Đất nước nhân dân và nó đã được tác giả thể hiện rõ nét trong đoạn trích trên.

Phân tích

1. Giải thích

Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”: khác với quan điểm thời phong kiến cho rằng đất nước thuộc về vua chúa, trích đoạn đã làm nổi bật tư tưởng đất nước là của nhân dân – của tất cả mọi người không phân biệt giai cấp tầng lớp. Đất nước là do nhân dân tạo dựng, bảo vệ và làm chủ.

2. Chứng minh

– Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được tác giả chứng minh trên phương diện lịch sử

– Nhìn sâu vào chiều dài lịch sử “Hãy nhìn rất xa- Vào bốn nghìn năm Đất Nước”, nhà thơ càng thấm thía công lao xây dựng, vun đắp, bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là của lớp người trẻ tuổi. Đó là những con người bình dị, năm tháng nào cũng có, cũng giống như anh và em của hôm nay.

– Trong thời bình, họ hiền lành và chăm chỉ trong công việc lao động để xây dựng đất nước, đưa đất nước đi lên. Nhìn về quá khứ của dân tộc để thấy được năm tháng nào cũng người người lớp lớp không phân già trẻ, gái trai cũng luôn vừa cần cù làm lụng để kiếm miếng ăn vừa đánh giặc cứu nước, bất chấp hy sinh, gian khổ:

Năm tháng nào cũng người người, lớp lơp

Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

Cần cù làm lụng

– Còn trong thời loạn, “khi có giặc” ngoại xâm:

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

– Và trong cái chiều dài của lịch sử dân tộc ấy, có biết bao lớp người con gái, con trai giống như lớp tuổi chúng ta bây giờ, họ đã sống và chết một cách giản dị và bình tâm không ai nhớ mặt đặt tên, nhưng mà nhà thơ đã khẳng định vai trò của họ đối với đất nước thật vô cùng to lớn. Họ chính là những con người bình thường, giản dị, nhưng có một tình cảm sâu đậm đối với đất nước. Khi đất nước lâm nguy, bị kẻ thù xâm chiếm, họ tạm gác lại những tình cảm riêng tư, lên đường đi chiến đấu, đem máu xương của mình hiến dâng cho Tổ quốc. Chính họ là những con người “làm ra Đất Nước”.

Nhiều người đã trở thành anh hùng

Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ

Nhưng em biết không

Có biết bao người con gái con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Ðất Nước

– Không chỉ lao động xây dựng đất nước, đánh giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, mà những thế hệ người Việt trong suốt bốn nghìn năm còn gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau mọi giá trị văn hoá vật chất và tinh thần:

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cái

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

– Về nội dung tư tưởng: Đây không phải tư tưởng mới, tư tưởng này đã xuất hiện trong thơ xưa đến nay như xuất hiện trong thơ Nguyễn Trãi: Nhân dân bốn cõi một nhà; Trong thơ hiện đại của Nguyễn Đình Thi: Ôm đất nước những người áo vải/ Đã đứng lên thành những anh hùng;…

– Về nghệ thuật

+ Đoạn thơ giàu tính chính luận. Đưa ra các dẫn chứng để chứng minh đất nước của nhân dân.

+ Nội dung chính luận lại được thể hiện một cách trữ tình, trong những hình tượng nghệ thuật, sử dụng sáng tạo chất liệu dân gian, đi vào lòng người mà không hề khô khan.

+ Thể hiện giọng điệu tâm tình tha thiết lắng sâu, như câu chuyện của đôi lứa yêu nhau. Mang lại những rung cảm thẩm mỹ đẹp đẽ trong lòng người đọc.

Tổng kết vấn đề

So với đề thi năm 2019 thì đề thi THPT Quốc gia năm 2020 vẫn giữ nguyên cấu trúc đề thi và chỉ thay đổi trong nội dung của từng câu hỏi. Các câu hỏi sẽ dựa trên tổng quan về phạm vị kiến thức đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo chính thức.

Đáp Án Chính Thức Đề Thi Chuyên Anh Lớp 10 Chuyên Hà Nội

Một trong những cách luyện thi tốt nhất cho những bạn vẫn chưa tự tin vào khả năng của bản thân là làm thật nhiều đề thi bởi đề thi chính là bài tổng ôn hiệu quả nhất không những giúp thí sinh ôn luyện được kiến thức còn thiếu mà còn luyện cho mình kinh nghiệm trong quá trình làm bài thi thật. Vậy nên sau đây, chúng tôi xin giới thiệu với các bạn học sinhđề thi chuyên anh lớp 10 chuyên Hà Nội – AMSTERDAM để các bạn tham khảo và có phương pháp ôn tập trong kì thi sắp tới.

1. A. facsimile B. transfer C. spacious D. fax

2. A. swallow B. switch C. sweet D. sword

3. A. scenic B. extinct C. decrease D. coexist

4. A. agreed B. boxed C. based D. listened

5. A. off B. of C. if D. fly

1. A. appreciate B. experience C. embarrassing D. situation

2. A. excited B. interested C. confident D. memorable

3. A. floppy B. embrace C. cotton D. idol

4. A. complain B. destroy C. terrify D. imagine

5. A. carefully B. correctly C. seriously D. personally

A. body B. legs C. skin D. bones

A. reminisce B. conceive C. contemplate D. access

A. By and large B. Fair and square C. Ins and outs D. Odds and ends

A. will be elected B. be elected C. is elected D. was elected

A. abstain from B. keep from C. stay from D. stand from

A. target B. point C. focus D. aim

A. farther away B. far from it C. far and wide D. farthest of all

A. refuse B. resort C. resist D. resolve

A. confided B. intimated C. confessed D. disclosed

A. boils B. revolves C. centers D. refines

A. hold water B. blossom C. make water D. pass water

A. break out B. break up C. break D. break down

A. down a drain B. on a tin roof C. into the river D. off a duck’s back

A. carry-away B. carry-on C. take-away D. fast-courses

A. cut-aways B. cut-backs C. cuttings D. drop-backs

chúng tôi B. broad C. wide D. distant

A. not mention B. doesn’t mention C. hadn’t mentioned D. didn’t mention

A. plugging B. pushing C. butting D. moving

A. up to B. down to C. off at D. up with

A. shouldn’t have used B. shouldn’t use C. not to use D. didn’t use

Mount Mulanje in Malawi is the highest mountain in (1. CENTRE) Africa, part of a range which comprises no fewer than twenty peaks over 2,500 meters. The range is readily (2. ACCESS) by road and a day’s drive allow a (3. LEISURE) circumnavigation. More energetic visitors, particularly walkers and climbers, are rewarded with an experience that is (4.FORGET). Mulanje is a (5. BREATH) sight, visible for miles around. The giant slab of rock appears to protrude almost vertically from the plain. This impression is borne out by the existence of the longest sheer rock-face in Africa, demanding for even the most skilled (6. MOUNTAIN). The explanation for this dramatic geography lies in the rock: hard granite, very (7. RESIST) to erosion, which contrasts with the softer rocks of the plains. Most visitors remain on the lower, gentler slopes, making use of forest huts for overnight accommodation. The trek up the foothills, along clearly defined paths, is not overly (8. CHALLENGE) but may take up to a week. As the climate cools gradually, almost (9. PERCEPTIBLE), with every few meters of altitude gained, so the full diversity of fauna and flora is revealed in all its (10. SPLENDID).

1. We’re all very obliged you

2. He escaped by passing himself as a guard.

3. He’s quite careless danger.

4. When she sets an examination, she always tries to avoid crossing the part of a woman.

5. I’ve been so anxious you.

6. She refused to be a party any violence.

7. Embarrassment rooted her the spot.

8. This service is free charge. 9. the devil and the deep blue sea.

10. We cannot afford to take risks when people’s lives are stake.

When you hear someone bubbling enthusiastically about an exotic species, you can safely bet the speaker isn’t an ecologist. This is a name for a resident of an established community that was deliberately or accidentally moved from its home range and became established elsewhere. Unlike most imports, which can’t take hold outside their home range, an exotic species permanently insinuates itself into a new community. Sometimes the additions are harmless and even have beneficial effects. More often, they make native species endangered species, which by definition are extremely vulnerable to extinction. Of all species on the rare or endangered lists or that recently became extinct, close to 70 percent owe their precarious existence or demise to displacement by exotic species. Two examples are included here to illustrate the problem. During the 1800s, British settlers in Australia just couldn’t bond with the koalas and kangaroos, so they started to import familiar animals from their homeland. In 1859, in what would be the start of a wholesale disaster, a northern Australian landowner imported and then released two dozen wild European rabbits (Oryctolagus cuniculus). Good food and good sport hunting – that was the idea. An ideal rabbit habitat with no natural predators was the reality.

Six years later, the landowner had killed 20,000 rabbits and was besieged by 20,000 more. The rabbits displaced livestock, even kangaroos. Now Australia has 200 to 300 million hippityhopping through the southern half of the country. They overgraze perennial grasses in good times and strip bark from shrubs and trees during droughts. You know where they’ve been; they transform grasslands and shrub lands into eroded deserts. They have been shot and poisoned. Their warrens have been plowed under, fumigated, and dynamited. Even when all-out assaults reduced their population size by 70 percent, the rapidly reproducing imports made a comeback in less than a year. Did the construction of a 2,000-mile-long fence protect Western Australia? No. Rabbits made it to the other side before workers finished the fence.

In 1951, government works introduced a myxoma virus by way of mildly infected South American rabbits, its normal hosts. This virus causes myxomatosis. The disease has mild effects on South American rabbits that coevolved with the virus but nearly always had lethal effects on O. cuniculus. Biting insects, mainly mosquitoes and flenses against the novel virus, the European rabbits dies in droves. But, as you might expect, natural selection has since favored rapid growth of populations of O. cuniculus resistant to the virus.

In 1991, on an uninhabited island in Spencer Gulf, Australian researchers released a population of rabbits that they had injected with a calcivirus. The rabbits died quickly and relatively painlessly from blood clots in their lungs, hearts, and kidneys. In 1995, the test virus escaped from the island, possibly on insect vectors. It has been killing 80 to 95 percent of the adult rabbits in Australian regions. At this writing, researches are now questioning whether the calcivirus should be used on a widespread scale, whether it can jump boundaries and infect animals other than rabbits (such as humans), and what the long – term consequences will be.

A vine called kudzu (Puerarialobata) was deliberately imported from Japan to the United States, where it faces no serious threats from herbivores, pathogens, or competitor plants. In temperate parts of Asia, it is a well – behaved legume with a well – developed root system. It seemed like a good idea to use it to control erosion on hills and highway embankments in the southeastern United States. (A) With nothing to stop it, though, kudzu’s shoots grew a third of a meter per day. Vines now blanket stream banks, trees, telephone poles, houses, and almost everything else in their path. Attempts to dig up or burn kudzu are futile. Grazing goats and herbicides help, but goats eat other plants, to, and herbicides contaminate water supplies. (B) Kudzu could reach the Great Lakes by the year 2040.

On the bright side, a Japanese firm is constructing a kudzu farm and processing plant in Alabama. The idea is to export the starch to Asia, where the demand currently exceeds the supply. (C) Also, kudzu may eventually help reduce logging operations. (D) At the Georgia Institute of Technology, researchers report that kudzu might become an alternative source for paper.

A. Animals or plants on the rare species list

B. A permanent resident in an established community

C. A species that has been moved to a different community

D. An import that fails to thrive outside of its home range

A. most imports B. new community C. home range D. exotic species

A. move B. connect C. live D. fight

A. The rabbits were infected with a contagious virus. B. Most Australians did not like the rabbits.

C. No natural predators controlled the rabbit population. D. Hunters killed the rabbits for sport and for food.

A. They were poisoned. C. They were moved to deserts.

B. Their habitats were buried. D. They were surrounded by fences

A. Because they are the origin of the myxoma virus B. Because they carry the myxoma virus to other animals

C. Because they die when they are infected by myxoma D. Because they have an immunity to the myxoma virus

7. According to paragraph 6, the Spencer Gulf experiment was dangerous because

A. insect populations were exposed to a virus B. rabbits on the island died from a virus

C. the virus may be a threat to humans D. some animals are immune to the virus

A. To explain why kudzu was imported from abroad

B. To argue that the decision to plant kudzu was a good one

C. To give a reason for kudzu to be planted in Asia

D. To offer partial solutions to the kudzu problem

A. Exotic species should be protected by ecologists.

B. Importing an exotic species can solve many problems.

C. Ecologists should make the decision to import an exotic species.

D. Exotic species are often disruptive to the ecology.

1. I have frequently made stupid mistakes like that.

2. I rarely sleep in the afternoon.

3. You think that fat people are always jolly, but you are wrong.

5. Erika said I had caused the accident.

6. My grandfather had completely forgotten that he phoned me last night. (RECOLLECTION)

Food-safety violations, including using improved fertilizers and toxic chemicals to produce foods, are increasing at an alarming rate. What suggestions would you give to solve these problems? You should write about 250 words. (20 pts.) ………………………………………………………………………………………………………………………

Đề thi chuyên anh vào lớp 10 chuyên Hà Nội Amsterdam

Mời các bạn tham khảo chuyên anh của trường chuyên Hà Nội – AMSTERDAM :

ĐỀ THI MÔN TIẾNG ANH (CHUYÊN) Total points: 100 II. (5 pts.)

1.to chúng tôi 3.about/ of 4. out, for 5.about/ for 6. to chúng tôi 8. of 9.between 10. at

1. affected/ influenced chúng tôi chúng tôi 4.(al)though 5.finding/ change chúng tôi chúng tôi 8.improvement 9. making 10. longer

1. Many’s the time that I have made stupid mistakes like that .

2. I’m not in a / the habit of sleeping in the afternoon.

3. Contrary to your thought/ belief/ opinion/what you think, fat people are not always jolly.

4. Not for another five years did the the whole truth about the murder come out.

5. Erika blamed me for causing/ having caused the accident.

6. My grandfather didn’t have any recollection of phoning me last night.

7. Many customs restrictions within the EC have been done away with.

8. At the moment me / my buying a new car is out of the question.

9. The Rainbow Disco is out of bounds to Ss at the school.

10. When they broke the news, she did not turn a hair.

1. Content: 10 pts – a provision of all main ideas and details as appropriate.

2. Language: 5 pts – a variety of vocabulary and structures

3. Presentation: 5 pts – coherence, cohesion, and style…

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Bố Đáp Án Chính Thức Môn Ngữ Văn Lớp 10 Của Nghệ An trên website Acevn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!